Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản Trị Tài Chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản Trị Tài Chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Tìm hiểu tình trạng tắc nghẽn ATM vào dịp Tết Nguyên đán

Đồng thời, cho phép công nhân được rút tiền tại nhiều thời điểm trong ngày chứ không ồ ạt giao dịch, rút tiền vào giờ tan tầm, cuối ngày như mọi năm… “DN cũng cần có trách nhiệm với 


Tình trạng quá tải sẽ khó tránh vào dịp Tết Nguyên đán khi lượng giao dịch qua máy ATM tăng mạnh.
Từ đầu tháng 12, các ngân hàng (NH) thương mại đã cấp tập lên kế hoạch chống nghẽn mạng máy ATM dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013. Tuy dịp Tết Dương lịch, tình trạng nghẽn mạng xảy ra không quá nghiêm trọng nhưng nhiều chủ thẻ vẫn rất bức xúc vì không rút được tiền.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!

Vẫn điệp khúc “hết tiền, ngưng giao dịch”
Chuyện hệ thống máy ATM hết tiền, ngưng giao dịch đã trở nên phổ biến dịp lễ, Tết nhất là khu vực tập trung đông dân cư, các KCX, KCN… Chị Lê Hà, nhà ở quận 7 – TP HCM, cho biết chiều tối 1/1 (Tết Dương lịch), chị chạy từ cơ quan trên đường Phan Xích Long, quận Phú Nhuận về nhà ở quận 7 nhưng ghé vào 3 máy ATM của NH TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam (BIDV) đều không rút được tiền.
Điểm đầu tiên trên đường Nguyễn Văn Giai, quận Bình Thạnh, giao dịch không thành công; đến máy ATM trên đường Khánh Hội, quận 4 rồi cây ATM thứ 3 trên đường Nguyễn Thị Thập, quận 7 chị mới đọc được thông báo: NH tạm ngừng giao dịch để quyết toán cuối năm từ 17 giờ đến 19 giờ 30 phút. Mừng vì đã là 21 giờ 30 phút, chị vào rút tiền nhưng vẫn điệp khúc “giao dịch không thành công”…
Trưởng phòng thẻ một NH TMCP tại TPHCM nhận xét hằng năm, Tết Dương lịch người dân thường chi tiêu không nhiều nên tình trạng nghẽn máy ATM chưa nghiêm trọng. Tuy nhiên, vào dịp Tết Nguyên đán, khi lượng giao dịch tăng gấp hàng chục lần ngày thường, các máy ATM nhận cả triệu lượt giao dịch/ngày… thì tình trạng hết tiền, ngừng giao dịch, khách phải xếp hàng chờ đến lượt là khó tránh.
Trước tình hình này, ngay từ tháng 12/2012, các NH thương mại đã triển khai kế hoạch chống nghẽn máy ATM dịp Tết bằng cách tăng cường lắp đặt thêm máy ATM tại những khu vực đông dân cư, các KCX, KCN có lượng giao dịch lớn, sắp xếp lại máy từ nơi kém hiệu quả sang nơi có nhu cầu cao hơn, tăng giờ làm việc, tiếp quỹ mỗi ngày…

Ông Dương Ngọc Minh, quyền Giám đốc Trung tâm Thẻ NH TMCP Đông Á, cho biết NH đã triển khai đạt khoảng 95% kế hoạch với nhiều giải pháp như tổ chức trực máy ATM 24/24 giờ, cử 6 đội tiếp quỹ làm việc liên tục, sắp xếp lại hệ thống máy ATM. Khi có máy nào hết tiền, hệ thống sẽ báo về trung tâm thẻ để nạp tiền ngay, bảo đảm hoạt động của buồng ATM liên tục…

Có lỗi của doanh nghiệp và ngân hàng “xài ké”
Theo thống kê của NH Nhà nước, hiện cả nước có hơn 47 triệu thẻ ghi nợ nội địa (ATM) nhưng chỉ có khoảng 14.000 máy ATM. Theo các NH TMCP có quy mô lớn, hiện một số NH nhỏ chỉ lo phát hành thẻ, không đầu tư hệ thống máy ATM mà chấp nhận “xài ké” máy của NH khác. Do vậy, không những người rút tiền phải trả phí rút tiền ngoại mạng từ máy ATM NH khác mà còn tạo áp lực thêm cho hệ thống ATM khi một lượng khách hàng lớn giao dịch mà NH (chủ máy) không kiểm soát được. Phí rút tiền ngoại mạng 3.300 đồng/giao dịch cũng không đủ bù đắp chi phí đầu tư máy ATM.

Ngoài ra, tuy áp dụng nhiều phương án nhưng lãnh đạo các NH thừa nhận nếu khách hàng cứ đổ dồn vào rút tiền mấy ngày cận Tết thì không cách nào chống đỡ nổi tình trạng nghẽn, hết tiền, xếp hàng…
Theo ông Lê Huỳnh Hà, Trưởng phòng máy ATM NH TMCP Ngoại thương Việt Nam TPHCM, vào dịp Tết hằng năm, doanh nghiệp (DN) lo công nhân bỏ về quê sớm nên thường chờ tới ngày cuối mới chi lương, thưởng. Điều này gây nhiều khó khăn cho công nhân trong việc rút tiền mặt từ máy ATM. Để giảm áp lực, DN tại các KCX, KCN nên sắp xếp chi trả lương cho công nhân vào nhiều ngày khác nhau thay vì chỉ dồn vào một số ngày cận Tết.

Đồng thời, cho phép công nhân được rút tiền tại nhiều thời điểm trong ngày chứ không ồ ạt giao dịch, rút tiền vào giờ tan tầm, cuối ngày như mọi năm… “DN cũng cần có trách nhiệm với nhân viên trong việc trả lương chứ không đổ dồn hết lên hệ thống máy ATM của NH” – ông Hà nói.

Đề phòng bị nuốt thẻ
Theo các NH, một biện pháp hiệu quả khác trong việc hạn chế tình trạng quá tải ATM là tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, đẩy mạnh thanh toán qua thẻ. Nhưng đến nay, cách này vẫn chưa được người dân tin dùng. Trường hợp phải rút tiền trong các ngày cao điểm, khách hàng nên tránh rút tiền vào cuối ngày hoặc đầu giờ làm việc bởi khi đó lượng giao dịch thường tăng mạnh. Ngoài ra, khi rút tiền xong, cần nhận lại thẻ ngay, tránh lo đếm tiền, không rút thẻ kịp thời, có thể bị nuốt thẻ.

Những đồng USD có mệnh giá “ngoài sức tưởng tượng” bạn có biết?

Đây là tờ USD có mệnh giá cao nhất được lưu hành trong công chúng. Tờ bạc này phát hành năm 1946 và có hình Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Salmon P. Chase. Theo một số nguồn tin, 

Khi nói tới đồng USD, nhiều người vẫn tin rằng tờ bạc 100 “đô” đã là tờ có mệnh giá lớn nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, nước Mỹ đã từng in ra đồng tiền mệnh giá 100.
Theo trang Huffington Post, cho đến nay, đồng tiền có mệnh giá lớn nhất từng được in của Mỹ là đồng 100.000 USD. Đồng tiền này được in vào ngày 18/12/1934 giữa lúc đỉnh cao của Đại suy thoái kinh tế. Về mặt kỹ thuật, đồng tiền này được gọi là chứng chỉ vàng, được phát hành nhằm thúc đẩy lạm phát để đưa nước Mỹ thoát khỏi tình trạng giảm phát tệ hại. Đồng tiền này chỉ được hoán đổi giữa các chi nhanh thuộc hệ thống Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và không bao giờ được lưu hành ra công chúng.
USD 1
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!

Ban đầu, những đồng bạc có mệnh giá lớn được thiết kế với mục đích tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc chuyển tiền giữa các ngân hàng. Về sau, khi chuyển tiền bằng đường điện tín ra đời, thì những đồng bạc như vậy cũng không còn chỗ đứng.
Dưới đây là những đồng USD có mệnh giá lớn nhất từ trước đến nay:
Đồng 50 USD
Đồng tiền này được đúc vào năm 2006 với mục đích dành cho các nhà đầu tư và các nhà sưu tập. Đây là đồng xu Mỹ đầu tiên được đúc bằng vàng 24k nguyên chất.
Đồng xu bạch kim có hình đại bàng Mỹ
Với mệnh giá từ 10-100 USD, đồng xu đại bàng Mỹ được đúc bằng các chất liệu bạc, vàng, và bạch kim từ năm 1986.
Tờ bạc 500 USD in hình Chánh án John Marshall
Tờ bạc 500 USD được in vào năm 1918, mặt trước có hình Chánh án John Marshall bên cạnh một con dấu màu xanh. Mặt sau là hình về nhà thám hiểm Hernando de Soto tìm ra sông Mississippi.
Tờ 500 USD in hình Tổng thống William McKinley
Hình của Tổng thống William McKinley đã được in lên tờ bạc 500 USD trong thời gian từ năm 1928-1934.
Đồng 1.000 USD
Tờ 1.000 USD này được in vào năm 1918, có hình của Alexander Hamilton, một “khai quốc công thần” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiện nay, hình chân dung Alexander Hamilton được in lên tờ 10 USD. Vào năm 1928, đồng 1.000 USD có in hình Tổng thống Grover
Đây là tờ USD có mệnh giá cao nhất được lưu hành trong công chúng. Tờ bạc này phát hành năm 1946 và có hình Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Salmon P. Chase. Theo một số nguồn tin, chính ông P. Chase là người đã chọn chân dung của ông để đưa lên tờ bạc này, bởi ông có tham vọng trở thành Tổng thống Mỹ.
Chứng chỉ vàng 100.000 USD
Tổng thống Woodrow Wilson là nhân vật có chân dung được in lên tờ bạc có mệnh giá lớn nhất từ trước tới nay của Mỹ. Đồng tiền này được in ra để chống tình trạng giảm phát trong thời gian Đại suy thoái hồi thập niên 1930 và không bao giờ được đưa vào lưu thông.
Đồng xu 1 nghìn tỷ USD
Về lý thuyết, việc đúc ra một đồng xu 1 nghìn tỷ có thể giúp nước Mỹ tránh được thế bế tắc chính trị xung quanh vấn đề nâng trần nợ. Nợ công của Mỹ đã chạm trần 16,4 nghìn tỷ USD vào ngày 31/12/2012 vừa qua và nước này sẽ bước vào một cuộc đàm phán đầy căng thẳng về nâng trần nợ trong thời gian từ nay tới tháng 3.
Đồng xu 1 nghìn tỷ được cho là sẽ giúp Chính phủ Mỹ trả bớt nợ mà không cần phải vay thêm tiền. Tuy nhiên, ý tưởng này có vẻ như khó thành sự thật vì vấp phải sự phản đối của cả Bộ Tài chính Mỹ lẫn FED.
Theo misa

Tìm hiểu thị trường vàng có gì biến động sau Nghị định 24 ?

Trong khi đó, các doanh nghiệp đã chuẩn bị rất kỹ cho việc thực hiện Nghị định 24. Những doanh nghiệp lớn đã hoàn tất mọi thủ tục


Thông tư 16 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định 24 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng chính thức có hiệu lực. Theo đó, các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng không có giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước cấp sẽ không được phép thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng. Vậy, thị trường vàng đã có gì biến động?
Dạo một vòng các khu phố có nhiều cửa hàng vàng bạc đá quý ở Hà Nội như Trần Nhân Tông, Hà Trung, Hàng Bạc… một điều dễ dàng nhận thấy là không khí mua bán trầm lắng. Ngay cả cửa hàng DOJI mới khai trương giữa phố Trần Nhân Tông cũng vắng vẻ, dù được trang hoàng lộng lẫy. Hoàn toàn không có ai mua, bán vàng miếng, dù giá trong nước vẫn cao. Trong khi đó, ở các cửa hàng vàng nhỏ lẻ vẫn có lác đác khách đến bán đi những chỉ, những lượng vàng cuối cùng phi SJC mà họ cất giữ lâu nay. Nhưng người bán vàng đang chịu thiệt rất nhiều khi các cửa hàng chỉ đồng ý mua lại với giá vàng nguyên liệu, tức là thấp hơn giá thị trường 5 – 6 triệu đồng/lượng.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!


Giải thích nguyên nhân của việc vàng người dân bán ra bị mua với giá thấp, các cửa hàng vàng lớn nhỏ đều vin vào nguyên tắc bất thành văn trên thị trường vàng lâu nay: mua ở đâu bán ở đó, kể cả đối với vàng SJC. Nếu không bán đúng cửa hàng đã mua thì phải chấp nhận bị mua theo giá vàng nguyên liệu, nếu kiểm định thấy đủ tuổi. Đây là thực tế bất hợp lý trên thị trường vàng mà người dân kỳ vọng sau khi thực hiện Nghị định 24, chỉ còn 38 doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được phép kinh doanh vàng miếng thì hiện tượng người dân bị ép giá khi bán vàng ở những cửa hàng khác nhau sẽ không còn nữa.
Nhiều cửa hàng vàng nhỏ không đủ tiêu chuẩn kinh doanh vàng miếng từ hơn 10 ngày qua đã từ chối mua lại vàng miếng của người dân vì ngại trở tay không kịp. Số lượng cửa hàng cũng giảm. Nếu như trước đây cả nước có trên 12.000 cửa hàng hoặc điểm kinh doanh vàng thì nay chỉ còn 8.000 điểm kinh doanh vàng. Con số này sẽ tiếp tục giảm sau ngày mai, vì theo các tiêu chuẩn của Nghị định 24 thì cả nước chỉ còn 2.497 điểm đủ tiêu chuẩn mua bán vàng. Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Quang Huy phân tích: vàng trang sức theo quy định của Nghị định 24 thì từ ngày 25.5 phải đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp. Thủ tục đăng ký doanh nghiệp đơn giản, nhưng lúc đó phải xuất hóa đơn chứng từ, hàng hóa phải có nguồn gốc. Nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình. Lúc đó vấn đề hàng hóa ở đâu ra, trách nhiệm doanh nghiệp thế nào và người tiêu dùng sẽ được bảo vệ quyền lợi ra sao? Nghị định 24 đã quy định rất rõ sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp đã chuẩn bị rất kỹ cho việc thực hiện Nghị định 24. Những doanh nghiệp lớn đã hoàn tất mọi thủ tục để được cấp giấy phép kinh doanh vàng miếng. Tính đến ngày 8.1.2013, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh vàng miếng cho 22 tổ chức tín dụng và 16 doanh nghiệp. Theo Giám đốc công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín – Minh Châu, hiện nay nhờ nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước thì giá vàng giữa các thương hiệu không còn chênh lệch nhiều như trước, chỉ còn chênh khoảng hơn 1 triệu đồng/lượng. Hiện nay chênh lệch nhiều nhất là giá trong nước và giá thế giới, như vậy người mua vàng vẫn bị thiệt

Nghị định 24 có thể coi như giải pháp mạnh tay nhất trong quản lý thị trường vàng từ trước đến nay nên thị trường không tránh khỏi xáo trộn ban đầu. Nhưng nếu chúng ta thực hiện nghiêm Nghị định này thì những bất ổn lâu nay của thị trường vàng sẽ dần bị xóa bỏ.

Điểm mới trong điều hành thị trường chứng khoán năm qua

Ngoài 8 nhóm giải pháp đã trình Bộ Tài chính để tháo gỡ khó khăn cho TTCK và các DN niêm yết, UBCKNN đề xuất 5 nhóm giải pháp khác để phát triển và tái cấu trúc TTCK, bao gồm


Cùng với 8 nhóm giải pháp đã trình Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề xuất 5 nhóm giải pháp khác để phát triển và tái cấu trúc thị trường chứng khoán (TTCK) .
2012: những gam màu tối – sáng

Số liệu của UBCKNN cho thấy, năm 2012, tổng huy động vốn cổ phần và cổ phần hóa là 18.000 tỷ đồng, giảm 10% so với năm 2011; trong đó, huy động vốn phát hành mới của DN niêm yết là gần 11.000 tỷ đồng. Số vốn huy động được quá thấp so với nhu cầu cho thấy, TTCK Việt Nam, với sứ mệnh trở thành kênh dẫn vốn cho DN và nền kinh tế, năm 2012 đã chưa hoàn thành được vai trò của mình.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!

Với tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân các DN niêm yết 9 tháng đầu năm 2012 chỉ đạt 8%, thay vì con số 12,3% năm 2011, hiệu quả sinh lời các DN giảm mạnh, dẫn đến mức độ hấp dẫn của hàng hóa chứng khoán giảm. Thêm vào đó, TTCK suy giảm khiến trên 60% DN niêm yết có thị giá thấp hơn mệnh giá, càng làm hoạt động huy động vốn cổ phần rơi vào khó khăn.
Về điểm sáng, năm 2012 đánh dấu bước tăng trưởng vượt bậc trong huy động trái phiếu, nhưng là trái phiếu chính phủ, chứ không phải trái phiếu DN. Tổng giá trị huy động trái phiếu chính phủ năm 2012 tăng 92% so với năm 2011, đạt 152.000 tỷ đồng.

TTCK bị ảnh hưởng không nhỏ từ khó khăn vĩ mô, nhưng thanh khoản tính chung cả năm tăng đáng kể, đặc biệt sau khi Sở GDCK kéo dài thời gian giao dịch và áp dụng lệnh thị trường. Quy mô giao dịch bình quân đạt 2.158 tỷ đồng/phiên (tính cả trái phiếu), tăng 55% so với năm 2011; trong đó, giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đạt bình quân 1.304 tỷ đồng/phiên, tăng 28% so với năm 2011.
Đáng chú ý, dù năm 2002 TTCK được dự báo sẽ phải chứng kiến sự thoái lui đầu tư của NĐT nước ngoài, nhưng trên thực tế, với sự tham gia ngày một tích cực của các quỹ đầu tư chỉ số, NĐT chiến lược…, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt 2 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2011. Trong số này, vốn gián tiếp nước ngoài vào thuần trên TTCK đạt 300 triệu USD.
Đối với nhóm CTCK, công ty quản lý quỹ, năm 2012 tiếp tục là một năm khó khăn. Trên 50% CTCK thua lỗ. Đối với các công ty quản lý quỹ, số đơn vị hoạt động cầm chừng, thua lỗ ít hơn, chỉ 14 trên tổng số 47 công ty.

Xu hướng chọn lọc CTCK, công ty quản lý quỹ năm 2012 tiếp tục diễn ra. Tài sản quản lý bởi các công ty quản lý quỹ tập trung chủ yếu vào các công ty trực thuộc ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán. Những CTCK mạnh tiếp tục lãi lớn. Với 11 CTCK đã bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, 3 công ty quản lý quỹ đang bị xem xét đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, sức ép thanh lọc các CTCK, công ty quản lý quỹ yếu kém trong thời gian tới sẽ ngày một lớn hơn, đặc biệt là sau khi Thông tư 226/2010/TT-BTC về an toàn tài chính tổ chức kinh doanh chứng khoán được sửa đổi, bổ sung.
2013: mở huy động vốn và tái cấu trúc TTCK

Theo UBCKNN, tăng trưởng GDP năm 2013 dự kiến cao hơn năm 2012; lạm phát, lãi suất, tỷ giá… được kiềm chế; Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ DN và khung pháp lý thị trường đã tương đối hoàn chỉnh, nhưng kinh tế vĩ mô và TTCK vẫn còn nhiều khó khăn. Vì thế, mục tiêu của UBCKNN trong vận hành TTCK là duy trì sự ổn định và bền vững của thị trường, tiếp tục triển khai hiệu quả công tác phát triển và tái cấu trúc TTCK.

Ngoài 8 nhóm giải pháp đã trình Bộ Tài chính để tháo gỡ khó khăn cho TTCK và các DN niêm yết, UBCKNN đề xuất 5 nhóm giải pháp khác để phát triển và tái cấu trúc TTCK, bao gồm: 1) các giải pháp về cơ chế, chính sách, đề án; 2) hoàn thiện khung pháp lý; 3) phát triển các sản phẩm mới và tăng cường tính đa dạng, chất lượng hàng hóa trên TTCK; 4) tăng cường giám sát, tái cấu trúc TTCK; 5) đầu tư hệ thống công nghệ.

Cùng với kiến nghị gỡ khó cho DN huy động vốn, trong đó DN được phép chào bán dưới mệnh giá, UBCKNN kiến nghị một loạt chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích triển khai các công cụ đầu tư mới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Đây sẽ là những động lực quan trọng góp phần đẩy mạnh công tác huy động vốn cho DN niêm yết năm nay. Diễn biến khả quan của TTCK những phiên giao dịch đầu năm 2013 là một tín hiệu cho thấy, dòng tiền trong nền kinh tế đã sẵn sàng quay trở lại thị trường.

Điểm nhấn thứ hai của TTCK năm nay được nhận định là việc tiếp tục tái cấu trúc các CTCK và tái cấu trúc TTCK. Cạnh tranh ngày một gay gắt, trong khi UBCKNN đã và sắp bắt đầu áp dụng nhiều quy định mới liên quan đến kiểm soát rủi ro, cảnh báo sớm CTCK, cũng như rút ngắn thời gian kiểm soát đặc biệt và đặc biệt, việc ban hành Thông tư thay thế Quyết định 27 về thành lập và tổ chức hoạt động CTCK…, các CTCK yếu kém sẽ nhanh chóng bị thanh lọc.

Lách luật để huy động vàng có nên hay không?

Theo đại diện NHNN tại Tp.HCM, chính sách này đã không thu hút được người dân tiếp tục gửi vàng nên nhiều đã đem ra bán. Một khối lượng vàng đã được rút ra để đem bán lấy VND về gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, tỷ lệ này tại

Sau thời điểm ngày 25/11, các ngân hàng thương mại (NHTM) phải chấm dứt hoàn toàn việc huy động, cho vay vàng, thị trường kỳ vọng nguồn cung vàng sẽ tăng khi người dân rút vàng gửi ở ngân hàng rồi bán ra lấy tiền đồng. Tuy nhiên, không như kỳ vọng, thị trường chẳng có thay đổi nào đáng kể. Người dân vẫn nắm giữ vàng, thậm chí là vẫn gửi lại mà không cần lãi suất.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!


Theo khảo sát, một số ngân hàng như Techcombank, Eximbank đang nhận giữ hộ vàng cho khách hàng, không có lãi suất nhưng cũng không mất phí. Một số ngân hàng triển khai việc thu phí giữ hộ vàng, mức thấp nhất khoảng 0,05% và cao nhất khoảng 2%.

Thay đổi cách huy động

Theo đại diện NHNN tại Tp.HCM, chính sách này đã không thu hút được người dân tiếp tục gửi vàng nên nhiều đã đem ra bán. Một khối lượng vàng đã được rút ra để đem bán lấy VND về gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, tỷ lệ này tại Tp.HCM chỉ chiếm khoảng 10 – 15% lượng khách hàng đến rút vàng. Từ việc được hưởng lãi suất gửi vàng 3 – 3,5% một năm, nay phải chịu phí giữ hộ vàng khiến khách hàng chờ đợi, nghe ngóng làm thị trường kém sôi động. 

Dù vậy, dư luận cho rằng một số đơn vị vẫn tìm cách lách luật để tiếp tục huy động vàng. Ông Nguyễn Hoàng Minh (NHNN Chi nhánh Tp.HCM) khẳng định diễn biến của thị trường vàng luôn được cập nhật hằng ngày và cho đến nay chưa thấy có tình trạng lách luật ở các ngân hàng. Tuy nhiên, ông Trần Thanh Hải, Tổng Giám đốc Công ty Kinh doanh và Đầu tư Vàng Việt Nam, cho rằng rất có thể các ngân hàng thương mại đã chấm dứt huy động vàng đúng quy định, nhưng có thể trước thời điểm ngưng huy động, nhiều khách hàng lại muốn tận dụng cơ hội hưởng lãi suất vàng nên đã đi đáo hạn để được kéo dài thời hạn đến ngày 30/6/2013.

Như vậy, theo Thông tư 12, các tổ chức tín dụng phải chấm dứt huy động vàng nhưng các DN vẫn được phát hành trái phiếu, tín phiếu. Nghĩa là DN cũng có thể phát hành tín phiếu đảm bảo bằng vàng. “Vậy thì vấn đề tiếp tục được đặt ra là sẽ như thế nào nếu những DN này là sân sau của một số ngân hàng? Rõ ràng việc có DN phát hành tín phiếu vàng là điều khó tránh khỏi”, ông Hải chia sẻ.

Một chuyên gia ngành vàng nhận xét: vàng là tài sản lớn trong khi nhu cầu về vốn vẫn còn quá lớn đối với rất nhiều DN hiện nay. Thế nên bằng cách này, DN có thể tận dụng việc huy động vàng để đổi lấy VND. Mặc dù cách làm này rất rủi ro nếu giá vàng biến động mạnh, họ vẫn làm. Mặt khác, trong tình hình các cánh cửa vàng dường như đóng lại thì khi phát hiện được có một cơ hội khác mở ra, nhiều người sẽ sẵn sàng gửi để tận dụng hưởng lãi suất.

Chưa có chuyển biến về vàng

Mặc dù các NHTM huy động vàng chỉ được trả một mức lãi suất rất ít, thậm chí là chỉ giữ hộ và thu phí dịch vụ thì người dân vẫn đang nắm giữ và gửi vàng cho ngân hàng. Một chuyên gia ngân hàng cho rằng việc huy động giá rẻ, bán ra lấy đồng nội tệ cho vay với lãi suất cao, một dạng kinh doanh siêu lợi, nên rất nhiều đơn vị tìm cách lách luật để huy động. Ngân hàng vừa không phải trả lãi suất nhưng có thể thu phí và vẫn sử dụng được số tài sản này khi đã thỏa thuận với người gửi vàng muốn rút ra thì phải báo trước. 

Như vậy, trái ngược với mong muốn của NHNN là khi cấm ngân hàng huy động vàng thì người dân bán vàng để gửi tiết kiệm, trên thực tế, người dân vẫn đang tiếp tục giữ vàng. Đại diện của SJC cho biết, chỉ có một số khách hàng nhỏ lẻ đến bán vài ba lượng vàng, chứ không phải hàng chục, hàng trăm lượng như trước đây.

Theo một chuyên gia về vàng, giá vàng trong nước khó rút ngắn cách biệt khi vàng đang độc quyền, nên vàng không lập tức giảm sâu được và người dân vẫn nắm giữ. Lực mua vàng từ các NHTM vẫn tiếp tục với 20 tấn vàng còn thiếu để hoàn tất đóng trạng thái, còn người dân lại không bán vàng ra như dự đoán. Nếu không có biện pháp đột phá giải quyết tận gốc nguồn cung, giá vàng trong nước vẫn tiếp tục cách biệt với thế giới. Chưa kể, nhu cầu mua vàng từ người dân theo tính toán của vị chuyên gia này khoảng 25 – 30 tấn mỗi năm. Cộng thêm kinh tế vĩ mô chưa ổn định, người dân chưa yên tâm nắm giữ tiền đồng… vàng sẽ vẫn là kênh bảo toàn vốn quan trọng.

Như vậy, việc huy động hay ngừng huy động vàng sẽ không có tác động nhiều tới thị trường vàng. Đặc biệt, điều đó chẳng có ý nghĩa giải quyết được những xáo trộn từ thay đổi chính sách và quản lý đã diễn ra trước đó trên thị trường. Giới kinh doanh vàng cho rằng thị trường vàng trong nước thời gian tới vẫn là một ẩn số khiến nhiều người tạm thời đứng ngoài để theo dõi tình hình. “Có thể thị trường sẽ biến động rõ nét hơn vào đầu tháng 1/2013 khi các DN kinh doanh vàng không đủ điều kiện mua bán vàng miếng phải chấm dứt hoạt động”, đại diện một công ty vàng nhận xét.

Kỹ năng quản lý hồ sơ cực đơn giản trong doanh nghiệp

Nên dùng màu sắc để mã hóa các tên mang lại sự nhận diện tức thời đối với một phân loại hồ sơ sử dụng một màu nào đó.



1. Quản lý hồ sơ là gì ?
Quản lý hồ sơ bao gồm việc sắp xếp, thiết kế và xem xét lại các văn bản, hồ sơ trong tổ chức. Nó liên quan đến việc phối hợp các nhiệm vụ, quản lý, bảo quản, tiêu hủy trong sự hoạt động của một tổ chức.

2. Vai trò của việc quản lý hồ sơ
Giảm chi phí mua sắm thiết bị
Đảm bảo cung cấp thông tin hợp thời
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!

Xử lý công việc nhanh gọn, có hiệu quả.
Có thể dễ dàng tìm hồ sơ khi nhân viên bệnh, nghỉ việc riêng.
Thuận lợi cho việc chuyển giao thông tin hồ sơ khi nhân viên chuyển bộ phận, nghỉ việc…
3. Những nguyên tắc của việc quản lý hồ sơ
Có một số nguyên tắc phải tuân thủ khi quản lý một hệ thống lưu trữ hồ sơ.
Nên có cách tiếp cận hồ sơ sao cho có thể nhanh chóng tìm ra khi cần.
Hệ thống nên đủ đơn giản để dễ hiểu và dễ vận hành, nếu không, có thể có sự nhầm lẫn về những hồ sơ nào được yêu cầu và làm chậm trễ việc truy cập.
Khi chọn cho mình một hệ thống lưu trữ hồ sơ, các doanh nghiệp cần lưu ý đến tính linh động để có thể mở rộng và nhận một số lượng lớn hồ sơ khi cần.
Phải xem xét việc tiết kiệm chi phí lập hệ thống và chi phí điều hành nó. Tính có thể nén được là một lý do quan trọng để bảo đảm hệ thống có thể phù hợp với khoảng trống sẵn có.
Phải xem xét tính an toàn chống lại những thứ như hỏa hoạn và sự hư hỏng hồ sơ do bụi, chất bẩn và mất mát, tính an toàn của các hồ sơ mật. Tính phù hợp chung của hệ thống trong điều kiện hoạt động của tổ chức là một xem xét khác.
Cách tạo chỉ mục của hệ thống nên thích hợp với mục đích và cung cấp đủ tham chiếu qua lại đối với những tài liệu bao gồm một số lãnh vực.
Phải có sự kiểm soát để theo dõi bất kỳ tài liệu nào được lấy ra và theo dấu chúng nếu cần. Hệ thống nên chính xác, nghĩa là được giữ cập nhật hóa việc lưu trữ không bị tụt lại phía sau.
Xây dựng hệ thống sắp đặt hồ sơ có hiệu quả: phải đảm bảo an toàn cho tài liệu quan trọng và dễ tìm khi cần sử dụng, thiết lập cẩm nang, sách hướng dẫn về danh mục sắp xếp.
Thiết kế và sử dụng các biểu mẫu thống nhất theo sự chỉ đạo chung.
Như vậy, một tổ chức phải thiết kế hệ thống lưu trữ hồ sơ của mình phù hợp với các yêu cầu và bảo đảm rằng hệ thống đó đủ linh động để theo kịp các thay đổi, đặc biệt là những thay đổi liên quan đến việc mở rộng hệ thống và các yêu cầu quản trị hiện đại.
Nên sử dụng những thiết bị chứa đựng hiệu quả để giữ và phân biệt những loại hồ sơ khác nhau.
Nên dùng màu sắc để mã hóa các tên mang lại sự nhận diện tức thời đối với một phân loại hồ sơ sử dụng một màu nào đó.
Tài liệu của hồ sơ nên luôn luôn đưa vào phía sau hướng dẫn. Tài liệu sau cùng được lưu trữ nên ở phía trước hồ sơ.
Thứ tự của các phân loại hồ sơ nên theo thứ tự của những đề mục chắc chắn được nêu lại trước tiên. Ví dụ, khi sử dụng tên họ thì tên riêng nên đứng trước, tiếp sau đó là những chữ viết tắt của tên hoặc nếu quốc gia là những phân loại chủ yếu thì chúng nên được tiếp theo bởi tên thành phố và thị trấn. Tất cả những phân loại hồ sơ dựa trên từ ngữ nên theo thứ tự chữ cái của từ hoặc chuỗi các chữ cái; các từ kép nên được xử lý như một từ. Nên tránh viết tắt trong các tên gọi hồ sơ. Cũng nên tránh dùng từ đồng nghĩa.
Tài liệu nên được chia thành những nhóm nhỏ hơn để lưu trữ. Như vậy, tài liệu trong một nhóm theo thứ tự chữ cái có thể được chia thành những hồ sơ gồm từ A đến F, G đến L, M đến R và từ S đến Z. cũng áp dụng điều tương tự cho tài liệu lưu trữ theo số, theo địa lý hoặc bằng một phương pháp khác .

Quản lý, xử lý rủi ro đối với nợ công của doanh nghiệp

Cho nên, việc phân loại nợ có rủi ro tín dụng cũng được chia thành 5 nhóm sau: Nhóm 1 nợ đủ tiêu chuẩn: Gồm nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và nợ lãi


Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quy chế quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công, bao gồm: phát hiện, đánh giá mức độ rủi ro, xử lý rủi ro và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công.


Mục tiêu quản lý rủi ro đối với danh mục nợ công là nhằm tối ưu hóa cơ cấu nợ công, đảm bảo nghĩa vụ trả nợ và nâng cao hiệu quả hoạt động công tác quản lý nợ công. Qua đó, đảm bảo không làm tăng nghĩa vụ nợ công đã được xử lý so với khoản nợ ban đầu. Đồng thời, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong tình huống xấu nhất với chi phí phát sinh hợp lý.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!


Nguyên tắc xử lý rủi ro chỉ áp dụng cho các nguyên nhân khách quan. Các khoản nợ công bị rủi ro do các nguyên nhân chủ quan thì tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất phải chịu trách nhiệm xử lý và bồi thường theo quy định của pháp luật. Việc phòng ngừa và xử lý rủi ro phải căn cứ vào thỏa thuận vay hoặc công cụ nợ gốc trong danh mục nợ công. Các nguyên nhân phát sinh rủi ro, phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Các loại rủi ro được quy định bao gồm: Rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Công cụ tài chính để xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công gồm: Các giao dịch phái sinh, như quyền chọn và hoán đổi; các nghiệp vụ tái cơ cấu nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợ, đảo nợ, hoán đổi nợ và mua lại nợ.

Trong đó, rủi ro thị trường đối với danh mục nợ công liên quan đến lãi suất và tỷ giá hối đoái. Việc xử lý rủi ro thị trường được thực hiện thông qua nghiệp vụ chủ yếu về giao dịch phái sinh lãi suất và tiền tệ. Cơ quan xử lý rủi ro được trích lập dự phòng để xử lý rủi ro thị trường theo quy định.

Về việc xử lý rủi ro thanh khoản, các nghiệp vụ được sử dụng như đảo nợ, hoán đổi nợ và mua lại nợ. Theo đó, điều kiện để thực hiện nghiệp vụ xử lý rủi ro thanh khoản sẽ áp dụng đối với các khoản vay thương mại và trái phiếu; đảm bảo chỉ tiêu giới hạn nợ công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng giai đoạn.

Còn việc xử lý rủi ro tín dụng phải đáp ứng ít nhất một trong các điều kiện chủ yếu: Chương trình, dự án đầu tư thuộc phạm vi được vay vốn theo quy định, đã sử dụng vốn vay đúng mục đích; người vay lại, người được bảo lãnh bị thiệt hại do nguyên nhân khách quan làm mất một phần hoặc toàn bộ vốn, tài sản. Người được bảo lãnh gặp khó khăn về tài chính dẫn đến chưa có khả năng trả được nợ hoặc không trả được nợ.

Cho nên, việc phân loại nợ có rủi ro tín dụng cũng được chia thành 5 nhóm sau: Nhóm 1 nợ đủ tiêu chuẩn: Gồm nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và nợ lãi đúng hạn. Nhóm 2, nợ cần chú ý: Gồm các khoản nợ có quá hạn phát sinh đến dưới 90 ngày.

Nhóm 3, nợ dưới tiêu chuẩn: Gồm các khoản nợ có nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày; nợ đã gia hạn 1 lần; nợ được miễn hoặc giảm lãi nhưng người vay lại, người được bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ theo cam kết trong Hợp đồng. Nhóm 4, nợ nghi ngờ: Gồm các khoản nợ có nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày; nợ đã được điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ lần đầu tiếp tục phát sinh nợ quá hạn và phải cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ lần thứ hai. Nhóm 5, nợ có khả năng mất vốn: Gồm nợ quá hạn trên 360 ngày; nợ đã được điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ lần thứ 2 tiếp tục phát sinh nợ quá hạn và phải cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ lần thứ ba; nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

Phương thức quản lý rủi ro hoạt động chủ yếu tập trung vào các cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ quản lý nợ công.

Chính sách tiền tệ trong doanh nghiệp qua các năm

Đặc biệt, NHNN sẽ không kiểm soát tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích, nhưng sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt 

Sau một năm quyết liệt cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), rủi ro hệ thống từng bước được kiểm soát, nguy cơ đổ vỡ hệ thống từng bước đẩy lùi. Hoạt động của các TCTD về cơ bản an toàn, hoạt động lành mạnh, trật tự kỷ cương thị trường đã được khôi phục lại và duy trì ổn định. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng thừa nhận hoạt động điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2012 cũng còn những hạn chế…

Trong năm 2012, NHNN chịu khá nhiều áp lực trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chính sách điều hành thận trọng và linh hoạt đã đạt được nhiều kết quả, như: kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng…
Tổng kết năm 2012, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết tổng phương tiện thanh toán cả năm 2012 tăng khoảng 20%, tín dụng tăng khoảng 7%. Các chỉ tiêu tiền tệ tăng trưởng hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp (6,81%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 5,03%.

Điểm tích cực nhất là mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh phù hợp với lộ trình, định hướng mà NHNN đề ra. Một số ngân hàng còn giảm nhanh hơn dự kiến, đáp ứng yêu cầu kinh tế vĩ mô, sự ổn định của tiền tệ và diễn biến của lạm phát. Lãi suất huy động giảm từ 3 – 6%/năm, lãi suất cho vay giảm 5 – 9%/năm so với cuối năm 2011 và đã trở về với mức lãi suất cuối năm 2007.

Theo ông Bình, mặc dù tín dụng tăng trưởng thấp, nhưng cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương của Chính phủ. Tính đến ngày 20/12, tín dụng tăng 6,45% so với cuối năm 2011, trong đó tín dụng bằng VND tăng 8,92%, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 3,51%; tín dụng đối với xuất khẩu (XK), nông nghiệp, nông thôn tăng cao hơn tăng trưởng tín dụng chung; tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm so với cuối năm 2011.

Trong đó, dư nợ cho vay bằng VND có mức lãi suất trên 15%/năm chiếm tỷ trọng 18,7%, giảm so với mức 65% trước ngày 15/7/2012. Các TCTD đã xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng vay với tổng số tiền là 252.159 tỷ đồng. Thanh khoản của hệ thống các TCTD được cải thiện, số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn so với yêu cầu dự trữ bắt buộc.

Tỷ lệ tín dụng/huy động vốn bằng VND giảm xuống mức khoảng 95%; lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 10 – 11%/năm so với cuối năm 2011 và hiện ổn định ở mức thấp. Đặc biệt, nợ xấu của các TCTD sau khi tăng mạnh vào những tháng đầu năm đã được khống chế và từng bước xử lý. Thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định đến cuối tháng 12, tỷ giá mua trung bình của các NHTM giảm 0,96% so với cuối năm 2011, tình trạng đôla hóa giảm (tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán là 13,2%, thấp hơn mức 15,8% cuối năm 2011).

Bà Nguyễn Thị Hồng – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cho biết trong năm 2013, NHNN sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt, đảm bảo kiểm soát lượng cung tiền tương ứng, các chỉ tiêu tiền tệ. Cụ thể, tổng phương tiện thanh toán, tín dụng ở mức hợp lý và điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức 8%, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khoảng 5,5% theo chỉ tiêu của Quốc hội đề ra là tăng trưởng tín dụng khoảng 12%.

Đặc biệt, NHNN sẽ không kiểm soát tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích, nhưng sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên, như: nông nghiệp, nông thôn, XK, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ, DN ứng dụng công nghệ cao.
Các TCTD được phép tự quyết định cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn để thanh toán ra nước ngoài tiền hàng nhập khẩu xăng dầu của các DN không có nguồn thu ngoại tệ và cho vay trong nước để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu đối với DN có nguồn thu bằng ngoại tệ đến hết năm 2013.

Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phù hợp với quan hệ cung – cầu ngoại tệ, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế và các cân đối vĩ mô; phối hợp với các bộ ngành tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát thị trường ngoại tệ, vàng và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, kiên quyết khắc phục tình trạng đôla hóa.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hoạt động của các TCTD, đảm bảo an toàn hệ thống, tránh rủi ro và giảm nợ xấu.

Làm gì để kiếm lời trong kinh doanh?

Vậy nhà điều hành doanh nghiệp nên làm gì nếu công việc kinh doanh đang khó khăn? Tiến sỹ Nelson nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin. Việc này sẽ giúp ngăn 


Nếu lãnh đạo biết đặt sự đồng cảm và quan tâm đến nhân viên lên trên, công ty chắc chắn kiếm được nhiều tiền.

Chắc chắn tất cả các chủ doanh nghiệp trên thế giới này đều muốn nhân viên của họ vui vẻ. Nhưng quan trọng hơn, họ muốn kiếm ngày một nhiều lợi nhuận. Vậy điều gì xảy ra nếu nhân viên vừa vui vẻ hơn và công ty lại kiếm được thêm lợi nhuận? Cuốn sách mới nhất của tiến sỹ tâm lý học Noelle Nelson với tựa đề “Make More Money by Making Your Employees Happy” tạm dịch “Kiếm thêm nhiều tiền bằng cách làm cho nhân viên vui vẻ” lý giải cho khả năng trên.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!



Nhà tâm lý học Nelson giải thích: “Khi nhân viên công ty cảm thấy lãnh đạo thực sự quan tâm đến quyền lợi của họ, họ cũng sẽ chăm lo đến lợi ích của công ty.”

Để đưa ra cơ sở cho quan điểm của mình, ông dẫn chứng một nghiên cứu từ tổ chức Jackson Organization. Theo đó, những công ty luôn biết đánh giá cao nhân viên thường có tỷ lệ ROE (tỷ lệ lợi nhuận ròng / vốn cổ phần) và ROA (tỷ lệ lợi nhuận ròng / tổng tài sản) cao hơn gấp 3 lần so với công ty không coi trọng nhân viên. Trong danh sách 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất toàn cầu của Fortune, giá cổ phiếu của nhóm công ty này tăng trung bình 14%/năm trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2005 trong khi đó mức tăng trưởng chung của thị trường cùng thời gian trên chỉ đạt 6%.”

Tất nhiên, nhiều ông chủ doanh nghiệp nghĩ rằng nhân viên có nhiều tiền hơn thì họ mới cảm thấy hạnh phúc. Khảo sát của công ty 24 Seven chuyên về tuyển dụng và quản lý tài năng cho thấy khoảng 66% nhân viên các công ty tại Mỹ mong được tăng lương trong năm 2012.

Theo ông Nelson, chủ doanh nghiệp cần phải biết giữ lời hứa và thể hiện sự quan tâm đến từng nhân viên. Nếu đã hứa sẽ tăng lương cho nhân viên thì hãy thực hiện đúng. Nếu bạn hứa sẽ hỗ trợ để giúp họ làm việc hiệu quả hơn, bạn phải làm. Hãy suy nghĩ xem điều gì quan trọng đối với nhân viên của bạn và mang đến cho họ điều đó.

Ông Nelson nhắc lại câu chuyện khi Paul O’Neil tiếp quản Alcoa, công ty nhôm hàng đầu thế giới, vào năm 1987. Ông Paul O’Neil tuyên bố ưu tiên lớn nhất của ông là đảm bảo an toàn cho công nhân. Ban điều hành của cả công ty choáng váng.

Thế nhưng O’Neil có cái lý của ông. Ông thừa hiểu công nhân của công ty luôn lo lắng thường trực về vấn đề an toàn. Trong 13 năm sau khi ông nhậm chức, năng suất lao động của công nhân tăng vọt, tỷ lệ tai nạn lao động của công nhân giảm mạnh về sát mức 0, thậm chí có khoảng thời gian nhiều năm liền, không có một công nhân nào bị tai nạn lao động.

Trước đó, tại mỗi nhà máy của công ty, cứ mỗi tuần lại có một công nhân bị tai nạn lao động. 10 năm sau ngày O’Neil nhậm chức, lợi nhuận thường niên của Alcoa đã tăng gấp 5 lần.

Apple, công ty công nghệ nổi tiếng thế giới, cũng luôn biết đánh giá cao và đối đãi tốt với nhân viên. Năm 2011, sau 1 năm kinh doanh lãi kỷ lục, CEO Tim Cook thưởng cho nhân viên bằng cách cho họ nghỉ hưởng lương trong suốt tuần có ngày Lễ Tạ ơn. Trong thư gửi nhân viên, ông Tim Cook viết: “Để ghi nhận công sức của các bạn trong năm vừa qua, lãnh đạo công ty sẽ dành cho các bạn một kỳ nghỉ hưởng lương dài. Các bạn sẽ nghỉ làm việc nhưng vẫn hưởng lương trong ngày 21, 22 và 23 tháng 11 để có thể có khoảng thời gian dài với gia đình và bạn bè.”

Tiến sỹ Nelson còn nhắc đến ví dụ của Procter & Gamble, công ty đã chia sẻ thành công trong kinh doanh với nhân viên bằng cách cho nhân viên nghỉ hưởng lương dài ngày. Tiến sỹ Nelson giải thích: “Lợi nhuận của họ giảm đi phần nào, thế nhưng họ có được sự trung thành của nhân viên và năng suất lao động cao hơn. Nếu công ty của bạn đang kinh doanh tốt, hãy chia sẻ thành quả. Hơn nữa, đừng thưởng cho điều hành của bạn một khoản lớn nếu công ty đang kinh doanh không thuận lợi.”

Vậy nhà điều hành doanh nghiệp nên làm gì nếu công việc kinh doanh đang khó khăn? Tiến sỹ Nelson nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin. Việc này sẽ giúp ngăn được kỳ vọng xấu trở thành tâm lý oán giận.

Các ông chủ không cần phải nỗ lực quá nhiều nếu muốn làm cho nhân viên vui vẻ. Tiến sỹ Nelson kể lại câu chuyện các nhà điều hành của Starbucks đã đến từng cửa hàng của hãng và nhận ra nhân viên rất mệt mỏi khi phải làm việc với khách hàng quá khắt khe. Lãnh đạo công ty đã không hề trách mắng nhân viên, thay vào đó, họ đưa ra chương trình đào tạo mới giúp giảm căng thẳng trong khi làm việc. Nhờ chương trình, họ hiểu được điều gì thực sự khiến nhân viên không hài lòng và giúp nhân viên có thêm kỹ năng để luôn vui vẻ trong khi làm việc với khách hàng.

Ông Nelson nói: “Nếu sếp của công ty nào cũng giống như sếp Starbucks, luôn biết đặt sự đồng cảm và quan tâm đến nhân viên lên trên, lợi nhuận chắc chắc sẽ tăng lên.”

Lấy vốn cho doanh nghiệp như thế nào cho hiệu quả?

Chiến lược kinh doanh đang thay đổi bởi những thách thức về kinh tế vĩ mô. Để xác định được mức độ ưu tiên của những sáng kiến kinh doanh cốt lõi, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp


Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vẫn đang tiếp diễn, các nhà lãnh đạo công nghệ phải đối mặt với một thách thức không nhỏ là tìm ra cách tốt nhất để tiết kiệm ngân sách…
Dưới đây là 10 biện pháp có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay.
1. Giảm bớt nguồn nhân lực
Chúng ta đang trải nghiệm điều này ngay trong chính văn phòng của mình và thường xuyên đọc về nó trên các phương tiện truyền thông. Biện pháp này ít nhiều gây đau đớn, và chúng ta không thích nó. Nó ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các thỏa thuận về dịch vụ/sản phẩm và nhất là không phải lúc nào việc cắt giảm nhân lực cũng là lựa chọn tốt nhất.
Mặc dù một số người nghĩ rằng đây là thời điểm tốt để “nâng cấp” nguồn tài nguyên của mình, những nhà quản lý phụ trách tuyển dụng nhận thấy không dễ tìm ra những nguồn tài nguyên như thế.
Để có được các kỹ năng bán hàng, cách marketing thành công,  mẹo quản trị tài chính. Hãy đến với website  kỹ năng để khám phá điều cần thiết bạn nhé!!!

Vì thế, dù biện pháp cắt giảm nhân lực có thể giúp tiết kiệm chi phí nhanh chóng, thì việc tiếp cận và giữ chân được nhân tài chủ chốt được xem là vấn đề quan trọng nhất để duy trì sự tăng trưởng lâu dài.
2. Chấm dứt mua dung lượng lưu trữ

Có vẻ như đang có tình trạng dư thừa về lưu trữ ở khắp nơi. So với trước đây, dung lượng lưu trữ đã trở nên rẻ đến nỗi chúng ta không ngừng mua chúng và không bỏ đi bất kỳ thứ gì.
Phương pháp tiếp cận mới là hãy tống khứ những tập tin và e-mail không cần thiết, xóa bớt những dữ liệu lưu trữ đã cũ. Trong quá trình này, cần chú ý đến hiệu năng của máy chủ. Liệu mỗi ứng dụng có thật sự cần đến máy chủ cho riêng nó? Câu trả lời là không.
3. Tăng cường chi tiêu công nghệ thông tin
Nếu chi tiêu đúng chỗ, bạn có thể tiết kiệm tiền ở một nơi khác vào thời điểm hiện tại và trong tương lai. Việc chi tiêu vào những công cụ cho phép cắt giảm ngay một số chi phí nhất định, như chi phí đi lại, có thể nhanh chóng mang lại hiệu quả. Việc đầu tư vào những công cụ hội thảo chất lượng cao sẽ giúp nhân viên làm việc và cộng tác có hiệu quả hơn. Khi số lượng chuyến đi công tác giảm đáng kể và việc sử dụng nguồn tài nguyên bên ngoài gia tăng, hội thảo từ xa có thể giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí một cách đáng kể.
4. Cải thiện khâu quản lý về công nghệ thông tin
Chiến lược kinh doanh đang thay đổi bởi những thách thức về kinh tế vĩ mô. Để xác định được mức độ ưu tiên của những sáng kiến kinh doanh cốt lõi, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải làm việc cùng nhau để nghiên cứu kỹ lưỡng những dự án và ưu tiên của mình. Nỗ lực này đang giúp doanh nghiệp tiết kiệm tiền bạc có hiệu quả hơn, sử dụng tốt hơn các nguồn tài nguyên và hiểu rõ hơn về chiến lược kinh doanh của mình.
5. Thương thảo lại với nhà cung cấp
Ai cũng đang nỗ lực để khỏi phải từ bỏ cuộc chơi. Vì thế, mọi người có thể ngồi vào bàn đàm phán và tìm ra một kịch bản có lợi cho mọi bên liên quan. Nếu bạn đang hài lòng với những nhà cung cấp của mình, thì đừng tìm cách cắt giảm số lượng nhà cung cấp để tiết kiệm. Bạn đang làm việc với những nhà cung cấp khác nhau vì những kỹ năng và dịch vụ họ mang lại cho bạn. Các nhà cung cấp không nhất thiết thay thế lẫn nhau. Vì thế, trước khi cắt giảm nhiều nhà cung cấp cùng một lúc, hãy tìm cách làm điều đó với từng nhà cung cấp một. Việc này có thể mang lại điều tốt nhất cho cả hai bên.